some quotes....

mardi 4 décembre 2007

Một đoạn thư riêng



Nguồn ảnh: Devianart

Làm entry đánh dấu ngày Phạm Tiến Duật qua đời nào. Dù rằng "đời thơ" của ông hình như đã dừng lại cách đây 32 năm rồi. Hôm qua Vũ Cao, tác giả Núi Đôi qua đời, hôm nay đến lượt Phạm Tiến Duật, chắc thời gian tới sách giáo khoa còn phải sửa nhiều.

Một đoạn thư riêng
Phạm Tiến Duật (1941 - 2007)

Người ta thường ăn dở của chua,
Hay của chát, em lại ăn của ngọt,
Chuyện buồn cười và niềm vui đột ngột
Để lòng anh nôn nao...

Trời thêm xanh và nắng thêm cao,
Rừng bỗng gió và tóc anh gió thổi,
Anh đi xuyên ngày, anh đi xuyên tối,
Xe không mui cây cối đến quây quần.

Anh đi dọc đoàn xe, anh đi dọc đoàn quân,
Anh bắt gặp nụ cười con trai con gái,
Anh chào hỏi và mọi người chào hỏi,
Nóng bỏng trên môi, lửa hắt tự trong lòng.

Những rủi ro không trùng nhưng hạnh phúc đã trùng,
Mỹ rút chạy khi cái thai dần lớn,
Anh đi giữa dòng người cuồn cuộn,
Cuộc đời vui, sức sống cứ dấy lên.

Đất nước của anh, đất nước của em
Đất nước của con, của đồng bào, đồng chí,
Ta khóc cười vì Người, ôi tấm lòng của Mẹ,
Ăn dở của chua, của chát cũng vì ta.

Em không kể gì nỗi vất vả đã qua,
Chỉ niềm vui kia chẳng thể nào giấu nổi,
Anh đi xuyên rừng và tóc anh gió thổi,
Hạnh phúc ở đằng kia, phía trước, rất gần thôi!

bài viết này của Nguyễn Quang Thiều trên Tuổi trẻ khá hay.

1.

Tôi trở thành một trong những người thân của gia đình nhà thơ Phạm Tiến Duật từ những ngày anh chị còn ở trong ngôi nhà, hay có thể gọi là căn phòng nằm trong ngõ Yên Thế, Hà Nội. Ngày ấy tôi chưa lấy vợ. Chính vì thế tôi thường xuyên đến đó. Chị Vân coi tôi như một đứa em trong nhà. Chị thường đi chợ muộn để có thể mua được thực phẩm với giá rẻ.

Tôi nhớ mãi món bò kho chị nấu lúc nào cũng nhiều nước. Vì sao chị lại nấu thịt bò kho nhiều nước? Vì thịt ít nên nấu nhiều nước để ăn. Đó là những năm đầu của thập niên 1980. Đó là thời gian khó khăn nhất sau chiến tranh. Hồi ấy, tôi thi thoảng đi công tác TP.HCM.

Một lần mấy người bạn rủ tôi buôn chanh từ TP.HCM ra Hà Nội. Chanh ở trong đó rất rẻ, còn Hà Nội lại quá đắt. Chúng tôi mua mấy chục kilogam chanh từ TP.HCM ra. Nhưng đến Hà Nội thì hầu hết chanh bắt đầu bị vàng vỏ. Tiền mua chanh lúc đó là một số tiền lớn so với lương của chúng tôi. Vợ chồng nhà thơ Phạm Tiến Duật thương mấy đứa em quá. Thế là hai người hì hục xếp từng quả chanh xuống gầm giường cho mát để giữ chanh khỏi nhanh bị vàng vỏ. Và chiều chiều, sau khi chị Vân đi dạy học về, nhà thơ Phạm Tiến Duật lại giục vợ trộn những quả chanh đã vàng vỏ lẫn với những quả chanh còn xanh mang ra chợ Sinh Từ gần đó bán gỡ vốn cho chúng tôi.

Cuộc sống của mọi người trong đó có tôi giờ đã quá khác xưa. Nhưng mỗi lần đi qua ngõ Yên Thế, tôi lại muốn dừng lại để hồi tưởng về những ngày xưa ấy. Tôi sẽ chẳng bao giờ lý giải cho ra ngọn ngành vì sao một nhà thơ danh tiếng đến như thế lại có thể sống trong một căn phòng như thế, và có thể làm những việc quá ư bình dân như thế.

2.

Trong khoảng mười năm cuối cùng của cuộc chiến tranh, Phạm Tiến Duật là một người lính đặc biệt trên con đường mòn Hồ Chí Minh huyền thoại. Ông được những người lính chiến đấu dọc con đường huyền thoại này chu cấp và bảo vệ đặc biệt để viết ra những bài thơ. Sau chiến tranh trở về, nhiều người lính nói họ đã vịn vào những câu thơ của Phạm Tiến Duật để ra trận.

Tôi nhớ mãi một câu chuyện về những người lính giữ chốt trên một quả đồi ven đường mòn Hồ Chí Minh trong chiến tranh. Họ bị bao vây. Những đơn vị ở bên ngoài không thể nào tìm cách tiếp cận được họ ngoài hệ thống liên lạc bằng điện đài. Khi cấp trên hỏi họ cần gì thì họ trả lời: "Chúng tôi cần thơ Phạm Tiến Duật".

Những người lính trên điểm chốt ấy biết rằng có thể tất cả họ sẽ hi sinh. Cái cần nhất lúc đó đối với họ không phải là thức ăn, nước uống. Cái cần nhất đối với họ trước cái chết là một bài ca của sự sống vang lên đôi lúc như một bản thánh kinh. Thơ của Phạm Tiến Duật không phải là một bản thánh kinh, nhưng là một điều gì đó kỳ lạ của thời điểm ấy.

Một bộ phận được phân công chuyển thơ của Phạm Tiến Duật lên điểm chốt đó. Bộ phận này đã tháo thuốc nổ trong một đầu đạn súng cối và cho thơ Phạm Tiến Duật vào đó rồi bắn lên chốt. Đây là một câu chuyện có thật. Nhưng khi được kể lại nó đã trở thành huyền thoại. Câu chuyện đó là một hiện thực huyền thoại. Đấy là một hiện thực chứa đựng sự kỳ diệu lộng lẫy của thi ca và đời sống tinh thần của con người ở bất cứ nơi nào trên thế gian này.

3.

Trong những ngày này bạn bè đến thăm ông rất nhiều. Mỗi khi có người đến là Phạm Tiến Duật lại vội vàng ngồi dậy và sai con trai mình chụp ảnh chung ông với bạn bè. Hai con trai Phạm Tiến Duật là cháu Hải và Lâm ngày đêm thay nhau chăm sóc bố. Chị Vân, vợ ông, bị tai nạn phải ngồi một chỗ trong thời gian ông bị bệnh. Khoảng nửa tháng trước đây, bạn bè nhà thơ ở Công ty Dầu khí Việt Xô đã in một tập thơ nhỏ cho ông. Họ là những bạn đọc mến mộ thơ ông từ thời chiến tranh.

Khi tôi đến, ông lấy tập thơ tặng tôi và mở tập thơ ra chỉ cho tôi xem một bài thơ và nói đó không phải là bài thơ của ông. Nhưng vì yêu quí mà những người làm sách đã đưa bài thơ đó vào. Đó là bài Lính mà em. Phạm Tiến Duật nói đây là bài thơ của một nhà thơ nào đó của Sài Gòn viết trước 1975. Nhưng ông rất hạnh phúc với tập thơ mà bạn
bè hâm mộ thơ đã in cho mình.

Trong thời gian ông nằm viện có một nhà văn chiều nào cũng đến thăm ông. Và mỗi lần đến thăm đều mua cho ông một chiếc áo mới. Lần nào cũng vậy, khi nhận được áo mới đó Phạm Tiến Duật đều cởi chiếc áo đang mặc và thay vào đó là một chiếc áo còn nguyên mùi vải. Người đó chính là nhà văn Nguyễn Khắc Phục.

Không phải Phạm Tiến Duật thiếu áo và cũng không phải Nguyễn Khắc Phục không biết mua quà gì cho bạn. Họ là những người lính cùng một thời với nhau. Hơn ai hết cả hai đều thấu hiểu cái sống cái chết trong cuộc đời này. Họ đã viết những câu thơ, câu văn đầy khát vọng hòa bình trong cuộc chiến tranh tàn khốc ấy. Bây giờ họ lại thanh thản làm một việc thật lãng mạn và nhân văn trong một cuộc đấu tranh khác không kèm phần tàn khốc - cuộc đấu tranh với số phận mà cụ thể là cái chết.

4.

Nhà thơ Phạm Tiến Duật, ông đã đi qua vinh quang và cay đắng, qua hạnh phúc và khổ đau. Và giờ đây ông đang đứng trước thử thách lớn nhất của số phận. Và lúc này, hình ảnh ấn tượng nhất của tôi về ông là hình ảnh ông cùng vợ xếp cẩn thận những quả chanh đang bắt đầu vàng vỏ xuống gầm giường, và hình ảnh ông đang đọc thơ trước hàng trăm người nông dân cùng hàng trăm ngọn đèn dầu ở một vùng quê nghèo đói. Đó là hình ảnh của một nhà thơ và là hình ảnh của thi ca. Nếu không thì tôi biết nói gì lúc này.

1 commentaire:

  1. Gửi lời vĩnh biệt bác PTD và bác Vũ Cao. Mấy hôm nay bố cháu ở nhà chạy loạn lên vì các báo đăng ầm ầm trong khi Hội Nhà văn chúng mình lại chưa có bài viết nào cho ra hồn để tưởng nhớ hai bác!
    Sách giáo khoa viết lại, hic, thế là các em khổ càng thêm khổ rồi. Huhu.

    RépondreSupprimer